Doanh nghiệp sản xuất thiết bị phòng cháy than khó

Chi phí thuế nhập khẩu nguyên vật liệu cao cùng khâu kiểm định mất nhiều thời gian, khiến doanh nghiệp sản xuất thiết bị phòng cháy chữa cháy trong nước than khó.

Tại hội thảo “Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ” chiều 28/5, các doanh nghiệp nêu nhiều khó khăn, trong đó đa số liên quan tới việc nguyên liệu đầu vào để sản xuất thiết bị phòng cháy chữa cháy đang chịu thuế suất cao.

Từ Hải Dương, ông Phan Thanh Hoài, đại diện cho Công ty TNHH Tomoken Việt Nam, cho biết để sản xuất được một bình chữa cháy trong nước, đơn vị phải nhập khẩu nhiều vật liệu, trong đó riêng tôn để sản xuất vỏ bình chữa cháy khoảng 300 tấn/tháng. Theo quy định về thuế nhập khẩu, đơn vị đang phải chịu 7% thuế nhập khẩu và 25% thuế chống bán phá giá.

“Như vậy mỗi tháng chúng tôi mất 32% thuế nhập khẩu để sản xuất bình chữa cháy. Với 300 tấn mỗi tháng, số chi phí bỏ ra rất lớn. Trong khi nếu nhập một bình chữa cháy từ Trung Quốc hay Nhật Bản thì thuế nhập khẩu chỉ 0%”, ông Hoài nói, cho rằng các đơn vị sản xuất trong nước đang gặp bất lợi hơn so với nhập khẩu.

Theo ông Hoài, trước đây Việt Nam chưa sản xuất được thiết bị phòng cháy chữa cháy, đa số nhập khẩu nên có thể không được quan tâm nhiều. Song ở thời điểm hiện tại, trong nước đã có thể sản xuất được nhiều sản phẩm thì nhà nước phải có cơ chế để bảo vệ các doanh nghiệp. “Đó là lý do mà các sản phẩm phòng cháy sản xuất trong nước có giá rất cao gấp đôi, gấp ba so với sản phẩm nhập khẩu”, ông Hoài nói.

Cùng ý kiến, ông Trần Vũ Nhật, Giám đốc Công ty TNHH S-TEC VINA, cho biết có nhiều nguyên liệu phục vụ cho việc sản xuất thiết bị phòng cháy chữa cháy chưa có trong nước mà phải nhập khẩu. “Việc nhập các nguyên liệu về sản xuất bị đánh thuế cao hơn nhiều so với việc nhập một sản phẩm hoàn thiện”, ông Nhật nói.

Theo ông Nhật, sau khi Việt Nam tham gia các hiệp định về môi trường, thì xuất hiện một vấn đề về hạn ngạch nhập khẩu liên quan tới khí chữa cháy HFC (hydrofluorocarbon), thường được dùng trong sản xuất thiết bị lạnh, điều hòa không khí ô tô, thiết bị dập cháy… Khi đơn vị nhập về để sản xuất thì bị kiểm soát về hạn ngạch, trong khi các đơn vị nhập khẩu một sản phẩm hoàn thiện từ Trung Quốc hay các nước khác không bị kiểm soát về hạn ngạch nhập khẩu. “Đây là một hạn chế rất lớn, nếu duy trì có thể khiến các doanh nghiệp sản xuất trong nước bị ảnh hưởng”, ông Nhật cho biết.

Cũng theo đại diện S-TEC VINA, nhà nước cần hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước nếu như có các sản phẩm tương đương với nhập khẩu.

Trong khi đó, ông Đỗ Tuấn, đại diện Công ty Shinyi, đơn vị chuyên sản xuất van chữa cháy cho hay các nguyên vật liệu phục vụ cho việc đúc van chữa cháy phải nhập khẩu cao, khi tính giá thành thì sản xuất trong nước cao hơn nhập khẩu.

Ông Lê Xuân Thả, đại diện Công ty CP sản xuất bình chữa cháy FICO nói bình chữa cháy trong nước đang không cạnh tranh được với ngay cả bình sản xuất trôi nổi, nên cần nâng thuế nhập khẩu với các thiết bị phòng cháy chữa cháy thành phẩm.

Ông Phạm Văn Hòa, đại diện Công ty FireFront, nêu ý kiến về việc bình chữa cháy sản xuất trong nước đang bị kiểm tra tới hai lần. “Khi sản xuất một bình thành phẩm, ngoài việc kiểm tra chất lượng đầu vào, sau đó còn kiểm định sản phẩm, trong khi nhập khẩu vỏ bình chỉ bị một lần”, ông Hòa nói.

Từng nhiều lần đi tham khảo thị trường, ông Hòa nói có lần mua một bình chữa cháy xuất xứ Trung Quốc về để kiểm tra chất lượng bên trong thì kết quả rất kém. Hiện công ty này đang sản xuất bình chữa cháy gốc nước, trên thị trường chưa nhiều, song ông Hòa lo ngại chỉ một thời gian nữa hàng giả sẽ xuất hiện rầm rộ.

Ông Phạm Văn Hòa nói thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào đang cao. Ảnh: Việt An

Ngoài thuế về nguyên vật liệu cao, theo nhiều doanh nghiệp sản xuất thiết bị phòng cháy chữa cháy thì thời gian kiểm định sản phẩm hiện quá lâu, thủ tục phức tạp, một lô hàng sản xuất ra phải đợi kiểm định dán tem, dẫn đến việc xoay vòng vốn bị ảnh hưởng, cũng như tăng chi phí.

Lấy dẫn chứng, đại diện Công ty Duhal có nhà máy chuyên sản xuất đèn Exit và đèn sự cố khẩn cấp trụ sở đặt tại TP HCM cho biết mỗi lô hàng đều bị kiểm định kéo dài 2,3 tháng, trong khi sản phẩm sử dụng pin để lâu sẽ ảnh hưởng.

“Cùng mã hàng, nhiều lúc việc kiểm định trong nước còn khó hơn việc lấy chứng nhận quốc tế. Chúng tôi từng sản xuất cho thị trường châu Âu, Mỹ nhưng họ chỉ kiểm định sản phẩm một lần, hàng năm sẽ có kiểm tra nhà máy, như này sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian. Những quy định hiện nay chúng tôi cho rằng chưa kích thích được các doanh nghiệp trong nước”, đại diện Duhal nói. Theo ông cần rút ngắn quy định về kiểm định, chỉ cần kiểm tra một lần cho một mã sản phẩm, sau đó doanh nghiệp sẽ buộc phải cam kết duy trì chất lượng sản phẩm.

Các sản phẩm phòng cháy chữa cháy mang tính phát triển mới, nghiên cứu mới ra thị trường hiện cũng mất rất nhiều thời gian do chưa có tiêu chuẩn cụ thể. Trong khi các sản phẩm sản xuất trong nước bị làm nhái rất nhiều. Sản phẩm chỉ cần đưa ra thị trường một thời gian là xuất hiện sản phẩm khác lấy nguyên thông số sản phẩm dù bên trong hoàn toàn khác nhau.

Ông Nguyễn Đỗ Tùng Cương, Chủ tịch Hiệp hội PCCC & CNCH Việt Nam cho hay hiện chưa có chính sách ưu đãi thuế tổng thể và có hệ thống cho hoạt động sản xuất, nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, phương tiện, thiết bị phục vụ, các vấn đề về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ… đối với các doanh nghiệp sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ trong nước.

Với vai trò là tổ chức xã hội nghề nghiệp duy nhất trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Hội sẽ đề xuất sửa đổi và hoàn thiện các văn bản pháp luật và chính sách hiện nay nhằm tạo điều kiện tốt nhất để thúc đẩy hoạt động sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.

Nhấn xem  https://vnexpress.net/doanh-nghiep-san-xuat-thiet-bi-phong-chay-than-kho-4751642.html

Thông cáo báo chí về tình hình cháy 6 tháng đầu năm 2024

Trong 6 tháng đầu năm 2024, toàn quốc xảy ra 2.222 vụ cháy, làm chết 57 người, bị thương 45 người, thiệt hại về tài sản ước tính sơ bộ thành tiền khoảng 127,9 tỷ đồng; xảy ra 125 vụ cháy rừng làm thiệt hại 529 ha rừng.

Lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH Công an các địa phương đã xuất 10.266 lượt phương tiện cùng 46.473 lượt CBCS trực tiếp cứu chữa 2.248 vụ cháy và CNCH; trực tiếp cứu được 232 người và hướng dẫn hàng trăm người bị mắc kẹt trong các đám cháy ra nơi an toàn, di chuyển và và cứu được một lượng tài sản trị giá hơn 75,2 tỷ đồng trong các vụ cháy; cứu được 362 người, tìm được 384 thi thể trong các vụ sự cố, tai nạn. Lực lượng tại chỗ và nhân dân dập tắt 555/2.222 vụ cháy.

Qua phân tích, đánh giá tình hình cháy cho thấy:

So với cùng kỳ năm 2023, số vụ cháy tăng 361 vụ (+19,4%; 2.222/1.861 vụ), số người chết tăng 14 người (+32,6%; 57/43 người), người bị thương không tăng, không giảm, tài sản giảm 71,9 tỷ đồng (-36,1%; 127,9/199,89 tỷ đồng.

Cháy chủ yếu xảy ra tại khu vực thành thị với 1.343 vụ (chiếm 60,4%), nông thôn xảy ra 879 vụ (chiếm 39,6%). Trong đó cháy tại loại hình nhà dân vẫn chiếm tỷ lệ cao nhật với 37% (823 vụ); vụ cháy kho, cơ sở sản xuất, kinh doanh chiếm 12,2% (271 vụ). Các loại hình khác, mỗi loại hình đều chiếm tỷ lệ dưới 10%.

Trong số 1.299/2.222 vụ cháy đã được điều tra làm rõ nguyên nhân thì cháy do sự cố hệ thống, thiết bị điện chiếm tới 72,9% (948/1.299 vụ); do sơ xuất bất cẩn sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt chiếm 18,3% (238/1.299 vụ). Các nguyên nhân khác mỗi nguyên nhân đều chiếm dưới 10%.

Cháy lớn xảy ra 18 vụ chủ yếu tập trung tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh ở các thành phố lớn. Cháy lớn tuy không gây thiệt hại về người nhưng gây thiệt hại về tài sản lên tới 72,1 tỷ đồng.

Xảy ra 28 vụ cháy gây thiệt hại nghiêm trọng về người (trong đó, nhà ở riêng lẻ xảy ra 14/28 vụ, nhà để ở kết hợp sản xuất, kinh doanh xảy ra 06/28 vụ; 08/28 vụ cháy loại hình khác), làm chết 57 người, làm bị thương 13 người.

Trong 06 tháng đầu năm 2024, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã tham mưu lãnh đạo Bộ tiếp tục chỉ đạo Công an các địa phương thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 01/CT-TTg và các Công điện của Thủ tướng Chính phủ, báo cáo Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 19/CT-TTg; tiếp tục tham mưu triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ trong công tác PCCC và CNCH; tập trung làm tốt công tác điều tra cơ bản, phân loại, đánh giá mức độ an toàn PCCC các cơ sở; triển khai các chuyên đề an toàn PCCC với các công trình xây dựng không phép, sai phép, rừng, nhà chung cư, nhà trọ, nhà nhiều căn hộ, nhà ở kết hợp sản xuất, kinh doanh có nguy cơ cháy, nổ cao… Đôn đốc, hướng dẫn và thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên Cổng Dịch vụ công Bộ Công an đối với các thủ tục hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH theo đúng quy định.

Lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã phối hợp cùng các cơ quan báo chí của Trung ương và địa phương xây dựng, đăng phát 31.192 phóng sự, tin bài; phát hành 1.707.050 tờ rơi, tài liệu, khuyến cáo. Tuyên truyền miệng 30.380 buổi thu hút 2.249.381 lượt người nghe; tổ chức 2.963 lớp huấn luyện nghiệp vụ PCCC với 174.514 học viên; xây dựng 49.362 “Tổ liên gia an toàn PCCC”, 57.421 “Điểm chữa cháy công cộng”. Xây dựng mới 12 đội dân phòng với 80 thành viên, 2.135 đội PCCC cơ sở với 13.413 thành viên; củng cố 10.558 đội dân phòng với 108.381 thành viên, 39.899 đội PCCC cơ sở với 260.576 thành viên, 154 đội PCCC chuyên ngành với 4.025 thành viên; xây dựng mới 2.176 mô hình phong trào toàn dân PCCC và CNCH.
Tổ chức kiểm tra an toàn PCCC 424.295 lượt cơ sở; lập 13.146 biên bản vi phạm hành chính; phát hiện, kiến nghị khắc phục 116.661 tồn tại, thiếu sót; xử phạt vi phạm hành chính 11.676 trường hợp với tổng số tiền trên 43 tỷ đồng, phát cảnh cáo 124 trường hợp, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với 279 trường hợp; tạm đình chỉ 1.279 trường hợp; đình chỉ hoạt động 1.677 trường hợp, phục hồi hoạt động 501 trường hợp. Ra quyết định khởi tố vụ án 21 vụ, 08 vụ ra quyết định khởi tố bị can (08 bị can)… Về xử lý công trình chưa được nghiệm thu về PCCC đã đưa vào sử dụng: Đã xử phạt vi phạm hành chính đối với 3.621 công trình, ra quyết định tạm đình chỉ/đình chỉ hoạt động đối với 2.539 lượt hạng mục công trình và công trình. Đã tổ chức thẩm định và cấp 7.048 giấy chứng nhận thẩm duyệt thiết kế về PCCC, 5.888 văn bản nghiệm thu về PCCC, 2.807 góp ý thiết kế cơ sở, góp quy hoạch, kiến nghị thẩm duyệt PCCC, 300 văn bản chấp thuận địa điểm xây dựng. Lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã xây dựng 5.273 phương án chữa cháy của cơ quan Công an, 4.024 phương án CNCH của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH; tổ chức thực tập 4.625 phương án chữa cháy của cơ quan Công an; 452 phương án chữa cháy khu dân cư có nguy cơ cháy, nổ cao; 3.519 phương án CNCH của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH. Hướng dẫn xây dựng 27.854 phương án chữa cháy của Chủ tịch UBND cấp xã, người đứng đầu cơ sở, chủ phương tiện và 14.283 phương án CNCH của cơ sở; hướng dẫn tổ chức thực tập 70.321 phương án chữa cháy của cơ sở và 36.497 phương án CNCH của cơ sở. 17 Công an địa phương đã đăng tải công khai bổ sung 1.680 công trình vi phạm về PCCC trên các phương tiện thông tin đại chúng…
Đối chiếu với mục tiêu, yêu cầu của 6 tháng đầu năm 2024, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra, đóng góp tích cực vào công tác an ninh, trật tự, an sinh xã hội và sự nghiệp phát triển đất nước.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác PCCC và CNCH vẫn còn những tồn tại, hạn chế như sau:
Tình hình cháy, nổ trong 06 tháng đầu năm 2024 diễn biến phức tạp, số vụ cháy tập trung tại các khu công nghiệp, hộ gia đình, nhà để ở kết hợp sản xuất kinh doanh, cơ sở tập trung đông người (chung cư mini, nhà trọ…). Đã xảy ra một số vụ cháy gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng

về người; các vụ cháy có nguyên nhân từ sự cố thiết bị điện (sau công tơ) tại các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh vẫn chiếm tỷ lệ cao.
Công tác chỉ đạo hướng dẫn của một số Bộ, ngành, UBND địa phương còn mang tính hình thức, chưa triển khai quyết liệt, triệt để; một số nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa phương còn chậm so với tiến độ Thủ tướng Chính phủ giao tại Chỉ thị 01/CT-TTg.
Một số lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa phương chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác PCCC và CNCH; một số nơi còn buông lỏng trong quản lý, kiểm tra, xử lý vi phạm, dẫn đến phát sinh nhiều công trình cơ sở vi phạm. Trong đó, tồn tại nhiều công trình vi phạm, xây dựng không phép, trái phép, không đủ điều kiện về an toàn PCCC nhưng vẫn hoạt động, đặc biệt là đối tượng nhà để ở kết hợp sản xuất, kinh doanh, tự cải tạo, thay đổi công năng từ nhà ở sang nhà vừa để ở kết hợp sản xuất kinh doanh, không tuân thủ các quy định về an toàn PCCC.
Việc xử lý các cơ sở không bảo đảm điều kiện an toàn PCCC được đưa vào sử dụng trước Luật PCCC năm 2001 có hiệu lực gặp khó khăn. Nhiều công trình đã quá cũ, không thể cải tạo, sửa chữa, nhiều công trình đã bố trí để di dời nhưng người dân không chấp hành. Một số địa phương còn chậm triển khai thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về xử lý cơ sở theo Điều 63a Luật PCCC, ngoài ra, một số địa phương phát sinh thêm 725 cơ sở không bảo đảm điều kiện an toàn PCCC được đưa vào sử dụng trước Luật PCCC năm 2001 có hiệu lực…
Phương tiện phục vụ công tác PCCC và CNCH của lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH còn khiêm tốn, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.
Trong 6 tháng cuối năm 2024, lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn và triển khai thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị, Kế hoạch của Đảng, Chính phủ và Bộ Công an trong công tác PCCC và CNCH. Trọng tâm, tham mưu Bộ Công an tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 01/CT-TTg, Chỉ thị 19/CT-TTg và các Công điện của Thủ tướng Chính phủ về công tác PCCC và CNCH; hướng dẫn, chỉ đạo Công an các địa phương tham mưu UBND cấp tỉnh báo cáo tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 99/2019/QH14 của Quốc hội; tham mưu Bộ Công an báo cáo Chính phủ, Chính phủ báo cáo Quốc hội tình hình, kết quả thực hiện Nghị quyết số 99/2019/QH14 năm 2024…
Tiếp tục tham mưu lãnh đạo Bộ, Chính phủ báo cáo Quốc hội thông qua dự án Luật PCCC và CNCH tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV; sửa đổi một số Thông tư của Bộ Công an về PCCC; xây dựng các các tiêu chuẩn, quy chuẩn về PCCC và CNCH.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, kiến thức kỹ năng về PCCC và CNCH. Xây dựng phong trào toàn dân tham gia PCCC và CNCH ở cơ sở rộng khắp, chất lượng, hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh xây dựng 02 mô hình “Tổ liên gia an toàn PCCC” và “Điểm chữa cháy công cộng” phát huy hiệu quả công tác bảo đảm an toàn PCCC tại khu dân cư. Tiếp tục phối hợp Công an thành phố Hà Nội, Công an thành phố Hồ Chí Minh, Công an tỉnh Nam Định tổ chức triển khai hoạt động trung tâm trải nghiệm cộng đồng về công tác PCCC và CNCH. Xây dựng và tổ chức Chương trình truyền hình “Chúng tôi là chiến sĩ PCCC và CNCH” năm 2024.
Tiếp tục xử lý cơ sở không bảo đảm yêu cầu về PCCC được đưa vào sử dụng trước ngày Luật PCCC có hiệu lực, đăng tải công đăng tải thông tin toàn bộ các công trình chưa được nghiệm thu về PCCC đã đưa vào sử dụng; tập trung triển khai thực hiện hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về PCCC và CNCH; tổ chức điều tra, xử lý vi phạm quy định về PCCC; tăng cường công tác thường trực sẵn sàng chữa cháy và CNCH; tổ chức chữa cháy, CNCH kịp thời các vụ cháy, nổ, CNCH xảy ra.
Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Công an các cấp PCCC và CNCH, nhất là tại các địa bàn, cơ sở trọng điểm, có nguy cơ cháy, nổ, cháy rừng, sự cố, tai nạn. Thực hiện nghiêm túc việc giải quyết các thủ tục hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH theo đúng thủ tục, trình tự, quy trình, quy định. Tổ chức điều tra, làm rõ, kết luận nguyên nhân các vụ cháy; xem xét trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan để xảy ra cháy để xử lý nghiêm minh trước pháp luật…
Tổ chức triển lãm và hội nghị Quốc tế về kỹ thuật, thiết bị an ninh, an toàn, PCCC Việt Nam năm 2024.
Tiếp tục phối hợp với các đơn vị chức năng của các Bộ, ngành tổ chức hướng dẫn các giải pháp tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các quy định của pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn về PCCC cho các tổ chức, doanh nghiệp; thanh tra, kiểm tra đối với karaoke, vũ trường; rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định về sử dụng điện (sau công tơ) để bảo đảm an toàn PCCC tại các cơ sở, hộ gia đình; xây dựng tiêu chuẩn về PCCC rừng; sửa đổi, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia đối với tàu cá có liên quan đến PCCC.
Tăng cường công tác kiểm tra thường trực sẵn sàng sẵn sàng chữa cháy và CNCH; chủ động lực lượng phương tiện tổ chức chữa cháy, CNCH hiệu quả các tình huống cháy, nổ, sự cố, tai nạn xảy ra. Biểu dương, khen thưởng các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện công tác PCCC và CNCH…

Một địa phương thu hút FDI gấp tới hơn 12 lần cùng kỳ, dẫn đầu cả nước

https://vtcnews.vn/mot-dia-phuong-thu-hut-fdi-gap-toi-hon-12-lan-cung-ky-dan-dau-ca-nuoc-ar873549.html

(VTC News) – Tính đến ngày 20/5, Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn đầu cả nước về thu hút FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,52 tỷ USD.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), tính đến 20/5, tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn 11,07 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2023. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2023.

Đáng chú ý, Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,52 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư cả nước và gấp hơn 12 lần cùng kỳ.

Cục Đầu tư nước ngoài lý giải vốn đầu tư của Bà Rịa – Vũng Tàu tăng mạnh do có dự án lớn với tổng vốn đầu tư 730 triệu USD của tập đoàn đa ngành Hyosung hàng đầu Hàn Quốc.

Đây là nhà máy đầu tiên tại châu Á và hiếm hoi trên thế giới sản xuất sợi sinh học BDO từ đường thô bằng công nghệ mới và hiện đại. Đường thô thay thế hoàn toàn nguyên liệu truyền thống như than đá để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), tính đến 20/5, tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn 11,07 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2023. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2023.

Đáng chú ý, Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,52 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư cả nước và gấp hơn 12 lần cùng kỳ.

Cục Đầu tư nước ngoài lý giải vốn đầu tư của Bà Rịa – Vũng Tàu tăng mạnh do có dự án lớn với tổng vốn đầu tư 730 triệu USD của tập đoàn đa ngành Hyosung hàng đầu Hàn Quốc.

Đây là nhà máy đầu tiên tại châu Á và hiếm hoi trên thế giới sản xuất sợi sinh học BDO từ đường thô bằng công nghệ mới và hiện đại. Đường thô thay thế hoàn toàn nguyên liệu truyền thống như than đá để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), tính đến 20/5, tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt hơn 11,07 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2023. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt khoảng 8,25 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm 2023.

Đáng chú ý, Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,52 tỷ USD, chiếm 13,8% tổng vốn đầu tư cả nước và gấp hơn 12 lần cùng kỳ.

Cục Đầu tư nước ngoài lý giải vốn đầu tư của Bà Rịa – Vũng Tàu tăng mạnh do có dự án lớn với tổng vốn đầu tư 730 triệu USD của tập đoàn đa ngành Hyosung hàng đầu Hàn Quốc.

Đây là nhà máy đầu tiên tại châu Á và hiếm hoi trên thế giới sản xuất sợi sinh học BDO từ đường thô bằng công nghệ mới và hiện đại. Đường thô thay thế hoàn toàn nguyên liệu truyền thống như than đá để giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Tính đến 20/5, Bà Rịa – Vũng Tàu dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,52 tỷ USD. (Ảnh minh họa: Vietnam Biz)

Đứng thứ hai là Hà Nội với gần 1,14 tỷ USD, chiếm 10,3% tổng vốn đầu tư đăng ký và giảm 39% so với cùng kỳ năm 2023. Bắc Ninh đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1,06 tỷ USD, chiếm gần 9,6% tổng vốn đầu tư cả nước.

Tiếp theo lần lượt là TP.HCM, Đồng Nai, Quảng Ninh…

Nếu xét về số dự án, TP.HCM dẫn đầu cả nước cả về số dự án mới (chiếm 37,8%), điều chỉnh vốn (chiếm 16,4%) và góp vốn mua cổ phần (71,1%).

Vốn đầu tư đăng ký mới 5 tháng đầu năm tăng mạnh so với cùng kỳ do tăng số lượng dự án mới (tăng 27,5%) và có dự án có quy mô vốn đầu tư lớn (hơn 400 triệu USD và hơn 600 triệu USD).

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 17 ngành trong tổng số 21 ngành kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt hơn 7,43 tỷ USD, chiếm 67,1% tổng vốn đầu tư đăng ký, tăng 11,9% so với cùng kỳ.

Tính lũy kế đến ngày 20/5, cả nước có 40.285 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 481,33 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt khoảng 305,43 tỷ USD, bằng gần 63,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.

Hiện có 146 quốc gia, vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam. Trong đó, đứng đầu là Hàn Quốc với tổng vốn đăng ký hơn gần 87,2 tỷ USD (chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư). Singapore đứng thứ hai với gần 77,9 tỷ USD (chiếm 16,2% tổng vốn đầu tư).

Ở chiều ngược lại, các nhà đầu tư Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài ở 16 ngành. Trong đó, vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào các ngành khai khoáng (chiếm 43,1% vốn), công nghiệp chế biến, chế tạo (chiếm 23,9% vốn); bán buôn, bán lẻ (chiếm 8,3% vốn). Còn lại là các ngành khác.

Lũy kế đến 20/5, Việt Nam đã có 1.733 dự án đầu tư ra nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư Việt Nam hơn 22,25 tỷ USD. Có 16 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm. Các nước thu hút đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Hà Lan (40,1%); Lào (36,8%); Hoa Kỳ (5,6%); New Zealand (4,3%).

Những vấn đề pháp lý về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ được hoàn thiện tại Dự án Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ

Dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) sẽ tập trung hoành thiện những vấn đề pháp lý về phòng cháy, cháy chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đang diễn ra, đáp ứng yêu cầu của của thực tiễn cuộc sống.

Những vấn đề pháp lý cơ bản mà Luật PCCC và CNCH sẽ tập trung hoàn thiện gồm 5 chính sách xây dựng Luật PCCC và CNCH: Quy định bao quát, thống nhất các hoạt động PCCC, phân công, phân cấp trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong hoạt động PCCC; quy định cụ thể các hoạt động CNCH có tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân mà chưa được quy định trong văn bản Luật; quy định thực hiện xã hội hóa công tác PCCC đối với một số nội dung quản lý nhà nước về PCCC; xây dựng, bố trí lực lượng, nhiệm vụ của lực lượng PCCC và CNCH; bảo đảm điều kiện đối với hoạt động PCCC, CNCH…
Trong đó có một số vấn đề đáng chú ý như: Chính sách về công tác CNCH phục vụ nhu cầu bức thiết về bảo đảm an toàn, an sinh của người dân khi không may xảy ra tai nạn, sự cố trong đời sống thường nhật; chính sách xã hội hóa về thiết kế, thẩm định, giám sát về PCCC, kiểm định kỹ thuật về PCCC và CNCH; phân công, phân cấp trách nhiệm thẩm định về PCCC cho các bộ ngành theo đúng chức năng, nhiệm vụ; quy định mới các nội dung phân định và thống nhất giữa quy định của pháp luật về PCCC với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để giải quyết những chồng chéo, xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay; bãi bỏ một số thủ tục hành chính về PCCC…

 

Hà Nội: Cháy chung cư C14 Bắc Hà phường Trung Văn, nhiều người tháo chạy

https://congthuong.vn/ha-noi-chay-chung-cu-c14-bac-ha-phuong-trung-van-nhieu-nguoi-thao-chay-323846.html

Phát hiện khói đen từ căn hộ thuộc tầng 8 tòa nhà CT1 chung cư Bắc Hà, nhiều người tháo chạy. Lực lượng chức năng đã điều nhiều xe chữa cháy đến hiện trường.

Thông tin ban đầu cho biết, vụ hỏa hoạn xảy ra vào khoảng 21h30 ngày 2/6 tại một căn hộ thuộc tầng 8, tòa nhà CT1 chung cư Bắc Hà, P.Trung Văn, Q.Nam Từ Liêm, Hà Nội.

Thời điểm trên, người dân tại chung cư này phát hiện khói đen bung ra cửa sổ của căn hộ ở tầng 8 nên đã thông báo lực lượng chức năng địa phương.

Hỏa hoạn xảy ra vào ban đêm khiến nhiều người một phen hoảng loạn (Ảnh: Bạn đọc cung cấp).
Hỏa hoạn xảy ra vào ban đêm khiến nhiều người một phen hoảng loạn

Nhận được thông tin, chính quyền sở tại đã điều 5 xe chữa cháy đến hiện trường dập lửa. Khoảng 15 phút sau, ngọn lửa cơ bản được khống chế, một số tài sản của căn hộ đã bị “bà hỏa” thiêu rụi.

Thời điểm xảy ra cháy, trong căn hộ không có người. Bước đầu chưa xác định được thiệt hại.

Nhiều người tháo chạy khỏi tòa nhà nơi xảy ra hỏa hoạn (Ảnh: Bạn đọc cung cấp).
Nhiều người tháo chạy khỏi tòa nhà nơi xảy ra hỏa hoạn

Anh Tú, nhân chứng có mặt tại hiện trường cho biết, nhiều người dân tại đây lo ngại cháy lớn lan sang các căn hộ khác nên đã tháo chạy xuống sân chung cư.

“Rất may lực lượng chức năng đã nhanh chóng có mặt để khống chế vụ cháy”, anh Tú cho biết thêm.

Theo thông tin sơ bộ, vụ cháy bùng phát do cháy cục nóng điều hòa của căn hộ…

 

Dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ dự kiến bãi bỏ một số quy định so với Luật Phòng cháy và chữa cháy hiện hành

Việc dự kiến bãi bỏ một số quy định so với Luật Phòng cháy và chữa cháy hiện hành là để phù hợp, đồng bộ với các Luật, quy chuẩn tiêu chuẩn và các quy định pháp luật hiện hành khác.

– Bãi bỏ quy định tiêu chuẩn về phòng cháy, chữa cháy (PCCC) bắt buộc áp dụng để phù hợp với Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; đồng thời bổ sung quy định cụ thể trách nhiệm của chủ đầu tư, tư vấn trong việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài về hệ thống PCCC và CNCH để phù hợp, đồng bộ với Luật Quy chuẩn, tiêu chuẩn và pháp luật khác hiện hành.

– Bãi bỏ quy định phòng cháy cho 11 loại hình cơ sở như Phòng cháy đối với khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, trong khai thác, chế biến, sản xuất, vận chuyển, kinh doanh, sử dụng, bảo quản sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, vật tư, hàng hóa khác có nguy hiểm về cháy, nổ… Chỉ quy định phòng cháy chung cho cơ sở do đã có quy định riêng tại các tiêu chuẩn, quy chuẩn.

– Bãi bỏ quy định Phòng cháy đối với rừng do đã được quy định tại Luật Lâm nghiệp.

– Bãi bỏ quy định về Thanh tra PCCC do đã được quy định tại Luật Thanh tra

– Bãi bỏ quy định Tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động để phù hợp với quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Nguồn: Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, Bộ Công an

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng

https://baochinhphu.vn/huong-dan-thoat-nan-khi-co-chay-o-chung-cu-nha-cao-tang-102230914172510484.htm

Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Nguyễn Hoàng Nam hỏi, người dân cần làm gì để phòng cháy và trong tình huống xảy ra cháy, đặc biệt là cháy trong các chung cư, nhà cao tầng thì làm thế nào để có thể thoát nạn?

Về vấn đề này, Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và Cứu nạn, cứu hộ, Bộ Công an hướng dẫn như sau:

Thực tế hiện nay, công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) chưa được chủ đầu tư, Ban quản lý, Ban quản trị của các chung cư, nhà ở hộ gia đình quan tâm đúng mức, thậm chí một bộ phận người đứng đầu không nắm vững, thiếu kiến thức về công tác PCCC và CNCH.

Bên cạnh đó, một bộ phận người dân còn chủ quan, lơ là, thiếu kỹ năng, kiến thức về PCCC và CNCH nên khi xảy ra sự cố cháy lực lượng PCCC tại chỗ, người dân thường hoảng loạn và mất bình tĩnh dẫn đến hiệu quả tổ chức chữa cháy tại chỗ không cao, không phát huy được phương châm 4 tại chỗ.

Để khắc phục tình trạng trên và nâng cao hiệu quả công tác PCCC và CNCH đối nhà cao tầng trong quá trình hoạt động cần tổ chức thực hiện tốt các nội dung sau đây:

Cách phòng cháy

Chủ hộ gia đình, thành viên trong gia đình trong các chung cư, nhà ở hộ gia đình phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm phòng cháy, chữa cháy (PCCC) quy định tại Khoản 3a, 3b Điều 5 Luật số 40/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và các nội dung sau:

– Tổ chức thực hiện và duy trì các điều kiện an toàn PCCC trong suốt quá trình hoạt động, cụ thể: “Nhà ở phải bố trí hệ thống điện, bếp đun nấu, nơi thờ cúng bảo đảm an toàn; các chất dễ cháy, nổ phải để xa nguồn lửa, nguồn nhiệt; chuẩn bị các điều kiện, phương tiện để sẵn sàng chữa cháy” (Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP).

– Kiểm tra thường xuyên về an toàn PCCC đối với hộ gia đình (Điểm a Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 136/2020/NĐ-CP).

– Bố trí sắp xếp vật dụng, nội thất, hàng hóa trong nhà phải bảo đảm ngăn cháy lan; lắp đặt và sử dụng hệ thống, thiết bị điện an toàn; quản lý chặt chẽ trong sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị sinh lửa, sinh nhiệt, chất, hàng hóa dễ cháy, nổ, sạc điện thoại, máy tính, xe đạp điện, xe máy trong nhà, không để tiềm ẩn, phát sinh cháy, nổ.

– Trang bị bình chữa cháy xách tay, lắp đặt thiết bị báo cháy tự động để kịp thời phát hiện, tổ chức thoát nạn, chữa cháy; duy trì lối thoát khẩn cấp qua ban công, lôgia phù hợp với điều kiện thực tế của căn hộ; xây dựng và thường xuyên thực tập phương án chữa cháy, thoát nạn của hộ gia đình.

Công tác chữa cháy

Đối với công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; khi xảy ra sự cố cháy, nổ lực lượng PCCC tại chỗ và người dân cần thực hiện các nội dung sau:

Đối với lực lượng PCCC tại chỗ

(1) Khi phát hiện cháy nhanh chóng báo động cho tất cả mọi người biết (kẻng, còi, chuông báo cháy, loa thông báo); đồng thời báo ngay cho lực lượng lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH qua số 114.

(2) Thực hiện trách nhiệm chỉ huy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ

– Xác định vị trí cháy; tổ chức nắm rõ tình trạng nguồn điện tại khu vực cháy; loại, số lượng chất cháy; nguồn nước chữa cháy và khả năng sử dụng các phương tiện chữa cháy, CNCH.

– Phân công các tổ, đội, bộ phận đồng thời thực hiện ngay các biện pháp chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

– Tổ chức bảo đảm hậu cần và các hoạt động phục vụ chữa cháy.

– Báo cáo tình hình, cung cấp thông tin cho người chỉ huy chữa cháy của lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH; tham gia công tác chỉ huy chữa cháy đối với lực lượng cơ sở theo phân công của người chỉ huy chữa cháy.

(3) Tổ chức chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ

– Nhanh chóng ngắt điện hoặc kịp thời tổ chức cắt điện khu vực xảy cháy.

– Cứu người bị nạn hoặc hướng dẫn thoát nạn (nếu có).

– Sử dụng các phương tiện chữa cháy tại chỗ (như bình chữa cháy, vòi nước chữa cháy) để dập lửa; sơ tán tài sản ngăn cháy lan.

– Phối hợp với lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH thực hiện các nhiệm vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ theo phân công của chỉ huy chữa cháy.

– Tham gia bảo vệ hiện trường phục vụ điều tra nguyên nhân vụ cháy và khắc phục hậu quả.

Cách xử trí khi có cháy

Đối với người dân:

(1) Khi phát hiện cháy nhanh chóng hô hoán, báo động cho mọi người xung quanh biết (kẻng, còi, chuông báo cháy); đồng thời báo ngay cho lực lượng PCCC cơ sở và lực lượng Cảnh sát PCCC&CNCH qua số 114.

(2) Tổ chức chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ

Nhanh chóng ngắt điện hoặc thông báo người có trách nhiệm kịp thời cắt điện khu vực xảy cháy.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 2.

Cứu người bị nạn hoặc hướng dẫn thoát nạn (nếu có).

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 3.

Sử dụng các phương tiện chữa cháy tại chỗ (như bình chữa cháy, vòi nước chữa cháy) để dập lửa; sơ tán tài sản ngăn cháy lan.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 4.

Phối hợp với lực lượng PCCC cơ sở, Cảnh sát PCCC&CNCH thực hiện các nhiệm vụ chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ theo phân công.

Các biện pháp thoát nạn

Trường hợp đám cháy lớn, diễn biến phức tạp, nguy hiểm phải nhanh chóng thoát nạn an toàn bằng các biện pháp sau:

Khi phát hiện có cháy ở nhà cao tầng cần bình tĩnh suy sét, tìm lối thoát nạn sẵn có theo đèn chỉ dẫn thoát nạn “EXIT” hoặc nghe thông báo chỉ dẫn qua loa chỉ dẫn.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 5.

Quá trình thoát nạn hãy thông báo cho các căn phòng lân cận biết có cháy để cùng xử lý và thoát nạn.

Nếu phải băng qua lửa, khói, khí độc hãy dùng mặt nạ phòng độc hoặc dùng chăn, áo, khăn ướt trùm lên đầu, che bịt kín miệng mũi.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 6.

Khi di chuyển cần thấp người (như cúi khom hoặc bò) và men theo tường.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 7.

Khi mở cửa cần mở cửa cần kiểm tra nhiệt độ của cửa; khi mở cần tránh mặt, tránh người sang một bên đề phòng lửa tạt. Nếu nhiệt độ cửa quá cao, tuyệt đối không được mở cửa và tìm ngay lối thoát khác.

Hướng dẫn thoát nạn khi có cháy ở chung cư, nhà cao tầng - Ảnh 8.

Nếu không có lối thoát khác hoặc không thể ra cửa, hay nhanh chóng di chuyển ra ban công, cửa sổ và hô tô, ra hiệu bằng dùng đồ vật sáng màu. Gọi điện thoại báo cho Cảnh sát PCCC&CNCH số 114 hoặc báo cho người thân.

Có thể dùng thang, dây, rèm, ga nối lại để xuống đất. Tuyệt đối không nhảy từ tầng quá cao xuống đất nếu không có sự hướng dẫn của lực lượng CNCH.

 

 

Điểm mới trong tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy

Áp dụng việc giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực phòng cháy và chữa cháy trên Cổng Dịch vụ công Bộ Công an bằng tài khoản số của tổ chức, cá nhân.

Thực hiện Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; Nghị định số 50/2024/NĐ-CP ngày 10 tháng 5 năm 2024 của của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP ngày 24 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng cháy và chữa cháy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 83/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định về công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy và chữa cháy, quy định tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị giải quyết các thủ tục hành chính (TTHC) trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) phải sử dụng tài khoản số của chính tổ chức, cá nhân đề nghị để thực hiện. Thực hiện quy định của pháp luật, từ ngày 28/5/2024 Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an tỉnh Bắc Giang thực hiện việc tiếp nhận và trả hồ sơ TTHC trên Cổng Dịch vụ công Bộ Công an theo tài khoản số của cá nhân, tổ chức thông qua số định danh cá nhân của công dân Việt Nam hoặc số hộ chiếu (hoặc số giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế) của người nước ngoài và mã số của tổ chức theo quy định. Trường hợp cá nhân, tổ chức chưa có tài khoản số, cán bộ tiếp nhận hồ sơ tại Bộ phận một cửa hướng dẫn thực hiện hoặc tạo tài khoản cho cá nhân, tổ chức trên Cổng Dịch vụ công; Trường hợp uỷ quyền giải quyết TTHC, tài khoản số được xác định theo số định danh của tổ chức, cá nhân uỷ quyền (khoản 11 Điều 1 Nghị định số 107/2021/NĐ-CP).
Trong quá trình thực hiện có vướng mắc đề nghị cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức và nhân dân liên hệ trực tiếp tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh Bắc Giang hoặc qua số điện thoại: đ/c Thượng uý Nguyễn Thị Hà Anh: 0966.193.777 và đ/c Trung tá Nguyễn Văn Hưng: 0983.641.032; 0947.182.926 để được hướng dẫn, hỗ trợ.
Vậy Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an tỉnh Bắc Giang thông báo để các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh được biết./.

QUY TRÌNH THI CÔNG SƠN CHỐNG CHÁY MTV CHO KẾT CẤU THÉP

Hệ sơn bảo vệ chịu lửa cơ bản cho cấu kiện thép bao gồm 3 lớp: Lớp sơn lót (sơn chống gỉ); lớp sơn chống cháy và lớp sơn phủ màu:

– Lớp sơn lót chống gỉ sử dụng sơn Alkyd MTV, sơn Epoxy MTV… hoặc sử dụng các loại sơn lót khác gốc dầu đang được lưu thông trên thị trường Việt Nam (Lưu ý: Không sử dụng sơn lót chống gỉ gốc nước).

– Lớp sơn chống cháy là sơn MTV được sản xuất bởi Công ty Cổ phần vật liệu chống cháy TTV.

– Lớp sơn phủ màu sử dụng sơn phủ màu gốc dầu của hãng sơn MTV hoặc các loại sơn phổ biến trên thị trường như: sơn Alkyd, sơn Epoxy, sơn PU, sơn Acrylic,của các hãng sơn khác (Lưu ý: Không nên sử dụng sơn phủ gốc nước).

Quá trình chuẩn bị và thi công hệ sơn cụ thể như sau:

  1. Chuẩn bị bề mặt
  • Trước khi thi công lớp sơn chống gỉ bề mặt cấu kiện cần phải được làm sạch bụi bẩn và khô hoàn toàn.
  1. Điều kiện thi công
  • Không thi công khi nhiệt độ không khí hoặc nhiệt độ bề mặt cần phủ dưới 10°C (50°F) hoặc độ ẩm tương đối trên 95% (điểm sương).
  • Khu vực thi công phải thoáng gió để khô nhanh.
  1. Thiết bị thi công
  • Có thể phun, dùng cọ quét hoặc con lăn.
  • Khi thi công bằng súng phun sơn, dùng súng phun không có không khí với áp lực phun cao. Thiết bị sau khi thi công phải được rửa sạch bằng dung môi phù hợp. Sử dụng béc phun sơn có đường kính lỗ phun phù hợp.
  1. Pha chế dung môi
  • Sử dụng đúng loại dung môi do nhà sản xuất cung cấp.
  • Có thể sử dụng dung môi để điều chỉnh độ nhớt của sơn phù hợp với phương pháp thi công. Tùy thuộc vào phương pháp và thiết bị sử dụng, có thể pha thêm dung môi nhưng không quá 10% khối lượng sơn. Trường hợp sử dụng quá 10% dung môi cần hỏi ý kiến của nhà sản xuất.
  • Pha từng lượng nhỏ dung môi khuấy đều hỗn hợp cho đến khi đồng nhất và đạt được độ nhớt mong muốn.
  1. Phương pháp thi công

5.1. Thi công sơn chống gỉ

  • Thi công ngay sau khi bề mặt thép được làm sạch
  • Khuấy trộn đều trước khi thi công
  • Bề mặt thi công đồng đều, thi công theo độ dầy mong muốn. Độ dầy trung bình của lớp sơn chống gỉ phổ biến ở khoảng 30 – 60 micron hoặc theo yêu cầu kỹ thuật của từng dự án cụ thể.

5.2. Thi công lớp sơn chống cháy

  • Chỉ thi công lớp sơn chống cháy khi lớp sơn chống lót gỉ khô hoàn toàn.
  • Sơn chống cháy MTV của Công ty Cổ phần vật liệu chống cháy TTV là sơn chống cháy nhanh khô 1 thành phần. Tùy thuộc vào yêu cầu độ dầy, có thể chia làm các lớp thi công khác nhau, độ dầy màng sơn khô tối đa cho mỗi lớp có thể đạt 500 micron, tùy thuộc vào thiết bị (điều chỉnh độ nhớt của sơn) và điều kiện thời tiết, môi trường thi công.
  • Thời gian chờ khô để sơn các lớp tiếp theo (với các lớp sơn chống cháy có độ dầy sơn tối đa) là 1,5 giờ hoặc tùy thuộc vào điều kiện thi công (nhiệt độ, môi trường lưu thông không khí, phương pháp thi công) mà có thể điều chỉnh thời gian chờ khô cho phù hợp.

5.3. Bảo quản và sơn phủ màu

  • Sau khi lớp sơn chống cháy khô hoàn toàn nên sử dụng sơn phủ để bảo vệ và tăng tính thẩm mỹ. Tùy thuộc vào chiều dầy lớp sơn chống cháy, thời gian để lớp sơn chống cháy khô hoàn toàn là ít nhất 8 giờ. Sơn chống cháy MTV phù hợp với hầu hết các loại sơn phủ sẵn có trên thị trường.
  • Sau khi thi công, bề mặt sơn phủ cần được để trong môi trường thông thoáng để khô nhanh.
  1. Kiểm tra, đánh giá chiều dầy lớp sơn

– Các lớp sơn lót và sơn phủ màu được thi công với chủng loại và chiều dầy theo yêu cầu cụ thể của từng dự án.

– Các lớp sơn chống cháy được thi công theo độ dầy trung bình đã được tính toán và xác định trong thiết kế chịu lửa của dự án.

6.1. Thiết bị kiểm tra

Sử dụng thiết bị đo bằng phương pháp siêu âm đầu dò có độ chính xác cao. Thiết bị đo phải có dải đo lớn hơn chiều dầy lớp sơn đã thi công.

6.2. Phương pháp đo và tính toán kết quả

Chiều dầy đo được là tổng chiều dầy các lớp sơn đã được thi công. Chỉ đo chiều dầy khi các lớp sơn đã khô hoàn toàn.

Cách xác định chiều dầy lớp sơn chống cháy được thực hiện theo mục 6.5.2 của tiêu chuẩn BS EN 13381-8:2013. Mỗi cấu kiện được đo chiều dầy tại nhiều vị trí khác nhau để tính toán giá trị trung bình. Chiều dầy lớp sơn chống cháy là chiều dầy trung bình được xác định sau khi đã trừ đi chiều dầy của lớp sơn lót và sơn phủ màu. Sai số cho phép của các điểm đo so với chiều dầy trung bình phải tuân theo quy định như sau:

  • Tối thiểu 68% số lượng các điểm đo phải có giá trị nằm trong phạm vi ± 20% giá trị trung bình.
  • Tối thiểu 95% số lượng các điểm đo phải có giá trị nằm trong phạm vi ± 30% giá trị trung bình.
  • Tất cả các điểm đo phải có giá trị nằm trong phạm vi ± 45% giá trị trung bình.
  1. Sơ cứu và xử lý môi trường

Không hít hoặc ngửi các khí hoặc sương bay ra trong quá trình phun. Đeo mặt nạ bảo hộ phù hợp và khít kín trong và sau quá trình sử dụng trừ khi việc kiểm soát khí và sương thoát ra được thực hiện tốt (luôn dưới mức cho phép). Tránh tiếp xúc với mắt, da, áo quần và rửa sạch sau khi sử dụng. Trong trường hợp tiếp xúc với mắt, xịt rửa nước nhiều lần trong tối thiểu 15 phút và đến trạm y tế ngay lập tức. Nếu bị ảnh hưởng do hít phải khí hoặc sương bay ra, phải tự chạy ra ngoài đến chỗ có không khí sạch; Không nên tiếp tục hít thở trong khu vực gần đó. Nếu sơ ý nuốt phải, không nôn mửa và tìm trợ giúp y tế ngay lập tức. Bảo quản ở nơi khô ráo, mát mẻ. Trong trường hợp bị rò rỉ, cách ly sản phẩm trong khi thu dọn những phần bị rò rỉ ra ngoài này. Thải bỏ phế liệu theo quy định của pháp luật.

CÔNG TY CỔ PHẨN VẬT LIỆU CHỐNG CHÁY TTV

Xin cảm ơn Quý khách hàng đã quan tâm và hợp tác với Công ty chúng tôi!

Xử lý vi phạm hành chính về phòng cháy, chữa cháy

Ngày 31/12/2021, Chính phủ ban hành Nghị định số144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Theo đó Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với một số hành vi vi phạm hành hành chính về phòng cháy, chữa cháy, trong đó có một số hành vi sau:

Vi phạm quy định về phòng, chống cháy, nổ tại hộ gia đình

– Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ mà gây thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.

– Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ mà gây thiệt hại về tài sản trên 100 triệu đồng;

+ Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 61%. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh;

+ Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này dưới 61%. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

Vi phạm trong việc để xảy ra cháy, nổ

– Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn về phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại về tài sản dưới 20 triệu đồng.

– Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại về tài sản từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.

– Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với hành vi vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại về tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng.

– Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Vi phạm quy định an toàn phòng cháy và chữa cháy để xảy ra cháy, nổ mà gây thiệt hại về tài sản trên 100 triệu đồng;

+ Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 61%. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh;

+ Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này dưới 61%. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

Vi phạm quy định trong vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ

– Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi không bóc, gỡ biểu trưng hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ gắn trên phương tiện vận chuyển khi hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đã được di chuyển khỏi phương tiện vận chuyển.

– Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 03 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Sắp xếp hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trên phương tiện vận chuyển không đúng theo quy định của pháp luật;

+ Không mang theo giấy phép vận chuyển khi vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ.

– Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Không duy trì đầy đủ các điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy khi sử dụng phương tiện giao thông cơ giới vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trong thời gian vận chuyển;

+ Vận chuyển hàng hóa khác cùng với hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trên cùng một phương tiện vận chuyển mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền;

+ Chở người không có nhiệm vụ trên phương tiện vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ;

+ Làm mất giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ nhưng không thông báo cho cơ quan có thẩm quyền.

– Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với hành vi không niêm yết biểu trưng hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trên phương tiện vận chuyển.

– Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ vượt quá số lượng, khối lượng, không đúng chủng loại quy định trong giấy phép. Ngoài phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc giảm số lượng, khối lượng, chủng loại hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ;

+ Vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ mà không có giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm;

+ Sử dụng giấy phép giả để vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm;

+ Tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Ngoài bị phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc nộp lại giấy phép vận chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ;

+ Không thực hiện các điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy hoặc không tuân theo sự hướng dẫn của người điều hành có thẩm quyền khi bốc, dỡ, bơm, chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ ra khỏi phương tiện vận chuyển theo quy định;

+ Không có hoặc không duy trì các biện pháp an toàn phòng cháy và chữa cháy cho thiết bị, đường ống chuyển chất khí, chất lỏng dễ cháy, nổ theo quy định của pháp luật;

+ Bốc, dỡ, bơm, chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ tại địa điểm không bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy. Ngoài phạt tiền, người thực hiện hành vi này còn bị buộc di chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đến kho, địa điểm theo quy định;

+ Bốc, dỡ, bơm, chuyển hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ đang trên đường vận chuyển sang phương tiện khác khi chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền.

Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy trong quản lý, sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt hoặc các thiết bị điện tử

– Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi mang diêm, bật lửa, điện thoại di động, nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt vào những nơi có quy định cấm.

– Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt mà không đảm bảo khoảng cách an toàn về phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.

– Phạt tiền từ 03 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với hành vi sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt hoặc các thiết bị điện, điện tử ở những nơi có quy định cấm.

– Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng đối với hành vi hàn, cắt kim loại mà không có biện pháp đảm bảo an toàn về phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.

Vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy trong lắp đặt, quản lý, sử dụng điện

– Phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Thay đổi thiết kế hoặc thông số chủ yếu của hệ thống điện, thiết bị điện mà không được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận;

+ Lắp đặt, sử dụng dây dẫn điện, cáp dẫn điện hoặc thiết bị đóng ngắt, bảo vệ hoặc thiết bị sử dụng điện không bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật.

– Phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 10 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

+ Sử dụng thiết bị điện không bảo đảm yêu cầu phòng nổ theo quy định trong môi trường nguy hiểm cháy, nổ;

+ Không có hoặc không bảo đảm nguồn điện dự phòng cho hệ thống phòng cháy, chữa cháy và hệ thống kỹ thuật có liên quan theo quy định của pháp luật.

– Phạt tiền từ 15 triệu đồng đến 25 triệu đồng; buộc lắp đặt hệ thống điện phục vụ yêu cầu phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ đối với hành vi không lắp đặt các hệ thống, thiết bị điện phục vụ yêu cầu phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo quy định của pháp luật.

Quy định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.

Bổ sung quy định về nghiệm thu, kiểm tra nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy

Theo dự thảo Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, các công trình, phương tiện giao thông cơ giới thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy sau khi tổ chức nghiệm thu phải được cơ quan quản lý chuyên ngành kiểm tra công tác nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy, và chỉ được đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được cơ quan quản lý chuyên ngành chấp thuận kết quả nghiệm thu.

Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Long trình bày tờ trình về dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. (Ảnh: DUY LINH)
Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Long trình bày tờ trình về dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. (Ảnh: Duy Linh)

Tăng cường quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trong tình hình mới

Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 33, sáng 14/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Trình bày tờ trình, Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Long cho biết, trong thời gian qua, tình hình cháy, nổ còn diễn biến phức tạp, nhất là tại các thành phố lớn, các khu đô thị tập trung đông dân cư với nhiều loại hình cơ sở mới xuất hiện đã và đang gây ra những thiệt hại về người và tài sản, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, đời sống xã hội, môi trường ổn định để phát triển kinh tế, xã hội…

Thực tế này đòi hỏi cấp thiết phải tăng cường các giải pháp, biện pháp, yêu cầu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy và việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy hiện hành là để kịp thời tạo cơ sở pháp lý nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trong thực tiễn.

Mặt khác, qua giám sát tối cao của Quốc hội về “việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng cháy và chữa cháy giai đoạn 2014-2018” đã chỉ ra một số hạn chế, bất cập mà đến nay chưa được khắc phục triệt để như: trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về phòng cháy, chữa cháy; việc bảo đảm an toàn trong sử dụng điện; việc xây dựng lực lượng phòng cháy, chữa cháy chuyên ngành, phòng cháy, chữa cháy cơ sở và dân phòng; việc tổ chức phòng cháy, chữa cháy tình nguyện…

Bổ sung quy định về nghiệm thu, kiểm tra nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy ảnh 1
Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương điều hành phiên họp. (Ảnh: Duy Linh)

Việc xây dựng, ban hành Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là cần thiết để khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập nêu trên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật và tăng cường công tác quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy trong tình hình mới.

Dự thảo Luật gồm 9 chương, 65 điều quy định về xây dựng, bố trí lực lượng, nhiệm vụ của lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; bảo đảm điều kiện cho hoạt động phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ…

Quy định cụ thể hơn các điều kiện an toàn về phòng cháy đối với cơ sở

So với quy định tại Luật Phòng cháy và chữa cháy năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2013, dự thảo Luật bổ sung thêm một số hành vi bị cấm trong phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

Cụ thể như: xúc phạm, đe dọa lực lượng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện nhiệm vụ; lợi dụng, lạm dụng nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, nhũng nhiễu, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; báo tai nạn, sự cố giả; chế tạo, hoán cải phương tiện giao thông thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy khi chưa có văn bản thẩm định; đưa phương tiện giao thông cơ giới thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy vào sử dụng, hoạt động khi chưa có văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu…

Ngoài ra, dự thảo Luật bổ sung quy định về nghiệm thu, kiểm tra nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy, yêu cầu công trình, phương tiện giao thông cơ giới thuộc diện phải thẩm định thiết kế về phòng cháy, chữa cháy sau khi tổ chức nghiệm thu phải được cơ quan quản lý chuyên ngành kiểm tra công tác nghiệm thu về phòng cháy, chữa cháy.

Bổ sung quy định về nghiệm thu, kiểm tra nghiệm thu phòng cháy, chữa cháy ảnh 2
Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: Duy Linh)

Đặc biệt, doanh nghiệp chỉ được phép đưa hạng mục công trình, phương tiện giao thông cơ giới đã được xây dựng hoàn thành vào khai thác, sử dụng sau khi được cơ quan quản lý chuyên ngành chấp thuận kết quả nghiệm thu.

Cũng theo Thứ trưởng Công an Nguyễn Văn Long, dự thảo Luật quy định cụ thể hơn trách nhiệm, yêu cầu trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh phải bảo đảm các điều kiện an toàn về phòng cháy và nâng cao hơn nữa yêu cầu, trách nhiệm trong việc quản lý, cung ứng, sử dụng điện và thiết bị điện có liên quan đến cháy, nổ.

Theo đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hoạt động thương mại, làm việc, công trình phải bảo đảm điều kiện an toàn phòng cháy, gồm: Thực hiện và duy trì các điều kiện bảo đảm an toàn về phòng cháy; quản lý chặt chẽ và sử dụng an toàn các chất cháy, chất nổ, nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị và dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt; kiểm tra phát hiện sơ hở, thiếu sót, vi phạm về phòng cháy và có biện pháp khắc phục kịp thời; có quy định, nội quy về phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

Đồng thời, bảo đảm an toàn phòng cháy đối với từng loại hình cơ sở theo quy định, cụ thể: có phương tiện, hệ thống phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; hệ thống kỹ thuật; hệ thống thông tin liên lạc; hệ thống truyền tin báo cháy, sự cố, hệ thống cập nhật, khai báo cơ sở dữ liệu về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; giải pháp ngăn cháy, chống khói, thoát nạn đáp ứng yêu cầu phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ.

Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ công khai thông tin công trình vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy

Qua kiểm tra và báo cáo của Công an các địa phương, căn cứ Điều 17 của Nghị định số 136/2020/NĐ-CP, Cục Cảnh sát PCCC và CNCH thông báo công khai các dự án, công trình do Cục Cảnh sát PCCC và CNCH thẩm duyệt nhưng chưa được chấp thuận kết quả nghiệm thu về PCCC đã đưa vào sử dụng, cụ thể:

Nhấn xem   http://canhsatpccc.gov.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/1186/id/22773/language/vi-VN/Default.aspx